Tâm An Writer trân trọng giới thiệu đến bạn đọc Bài thơ “Yêu sao Cánh cò hoàng hôn” của một Cựu chiến binh đã về với đất mẹ, cùng đôi dòng cảm nhận.
- Lính biển
- Ân tình miền đất Lạnh
- Đong đầy cảm xúc lần đầu nhận Giải thưởng Báo chí
- Nghe nữ nhà báo chiến trường Lệ Thu kể về một thời hoa lửa
Bài thơ: Yêu sao Cánh cò hoàng hôn
Lao xao sóng vỗ bốn bề
Hoàng hôn buông xuống bên lề đồi non
Bến xưa đậu mãi hoá tròn
Hoàng hôn buông xuống lối mòn còn bay.
Cả ngày ngày mải miết đắm say
Hoàng hôn buông xuống, cò quay trở về
Chốn quê lặng lẽ như tờ
Hoàng hôn buông xuống hững hờ trên không.
Hồng hồng lấp lánh ánh sông
Hoàng hôn buông xuống ngóng trông cánh cò…

Đôi dòng cảm nhận
Bài thơ được ra đời vào một buổi chiều hoàng hôn, tác giả tát nước cùng con gái đang sắp sửa thi Đại học, cách đây khoảng hơn chục năm về trước, giữa mênh mông cánh đồng lúa bát ngát xanh, cánh cò trắng bay bay khiến lòng người bâng khuâng…
Với thể thơ lục bát, ngôn ngữ bình dị, chân quê; Bài thơ “Yêu sao Cánh cò hoàng hôn” của tác giả đã đưa ta về một miền ký ức xa xôi, bình yên quá đỗi! Đó là hình ảnh “cánh cò” và “hoàng hôn” ở miền quê miền Trung đầy nắng và gió, với những con người lam lũ, chất phác, thật thà, chịu thương chịu khó.
Toàn thể bài thơ được chia thành 3 khổ như một thể thống nhất, tạo nên một bức tranh thiên nhiên hiền hoà, thơ mộng. Nơi ấy có sóng vỗ, đồi non, cánh cò, hoàng hôn và ánh sông.
Mở đầu là những vần thơ lai láng: “Lao xao sóng vỗ bốn bề/ Hoàng hôn buông xuống bên lề đồi non/ Bến xưa đậu mãi hoá tròn/ Hoàng hôn buông xuống lối mòn còn bay”.

Bằng việc sử dụng từ láy “lao xao” gợi nên thanh âm của cuộc sống bộn bề mưu sinh, của nhịp thời gian và dòng chảy của cuộc đời. Nhưng không ồn ã, không ào ạt mà vẫn êm ả, nhẹ nhàng như cánh cò trắng chao nghiêng.
“Đồi non” gợi nên vẻ xanh mơn mởn của cỏ cây và là “bến đợi, bến chờ, bến xưa” để đàn cò bay trong ánh hoàng hôn. Đó cũng là khoảnh khắc đẹp nhất, ấm áp nhất trong ngày để cò trắng bay đi kiếm ăn.
Ngày này qua ngày khác, “bến xưa” ấy đã “hoá tròn”, tạo nên “lối mòn” cò bay. Hay đó cũng là nhịp sống thường nhật quê tôi? Nơi bà con nông dân quen với ruộng đồng, luỹ tre làng…
Bước sang khổ tiếp theo, tác giả viết: “Cả ngày mải miết đắm say/ Hoàng hôn buông xuống, cò quay trở về/ Chốn quê lặng lẽ như tờ/ Hoàng hôn buông xuống hững hờ trên không”.
Tác giả một lần nữa sử dụng từ láy “mải miết”, “lặng lẽ”, “hững hờ” và điệp từ “hoàng hôn” để gợi lên sự lao động chăm chỉ, vất vả của đàn cò. Nhưng sau tất cả, cò cũng quay về tổ ấm để đoàn tụ cùng các thành viên thân yêu.
Đọc đến đây, độc giả như mường tượng hình ảnh của ba mẹ đã tần tảo lao động vất vả, chịu nhiều hy sinh mất mát để chăm lo cho các con có cuộc sống ấm êm, no đủ. Từ đó, thấu hiểu, yêu thương và biết ơn các đấng sinh thành nhiều hơn: “Đi khắp thế gian không ai sánh bằng mẹ/ Gian khổ cuộc đời không ai nặng gánh hơn cha”; “Nước biển mênh mông không đong đầy tình Mẹ/ Mây trời lồng lộng không phủ kín công cha”…

Tự sâu thẳm trái tim ta như cảm nhận tâm tư của một người cha về nỗi trống vắng, mênh mông và lặng lẽ đến đơn côi khi nghĩ về phận đời mong manh…
Để rồi sang hai câu kết: “Hồng hồng lấp lánh ánh sông/ Hoàng hôn buông xuống ngóng trông cánh cò…”
Hoàng hôn soi bóng xuống ánh sông lấp lánh một màu hồng dịu dàng nhưng không kém phần tươi sáng. Hình ảnh “ngóng trông cánh cò” gợi lên quy luật bất biến của thời gian, có gặp gỡ rồi chia ly…
Giọng thơ da diết nhẹ nhàng, man mác buồn, thắm đượm tình yêu quê hương, đất nước nhưng cũng không kém phần ung dung tự tại, bay bổng và lạc quan của tâm hồn một người lính bước ra từ chiến trường, Tuổi thanh xuân dành cho Tổ quốc…
Và giờ người lính ấy đã mãi mãi đi xa trong niềm tiếc thương vô hạn của những người ở lại, bởi nhân cách thanh sạch, hiền lành nhưng rất đỗi kiên cường, chính trực…

Tâm An
(Tâm An ghi chép và cảm nhận, như nén tâm hương gửi đến người ba đã khuất của mình là Đào Trung Việt).


