Đã mấy chục năm trôi qua nhưng trái tim tôi vẫn không khỏi nghẹn ngào xúc động xen lẫn niềm tự hào khi nhớ về những kỷ niệm đong đầy một thời khói lửa đạn bom ở chiến trường K.
- Ân tình miền đất Lạnh
- Lịch Tết và những hoài niệm khó phai
- Đà Lạt mùa hè trong veo giữa miền cao nguyên lộng gió
- Thuỷ Hoàng Nguyên: Chốn an yên sau những bộn bề phố thị
Chiến trường K và những hoài niệm
Ngày 9/9/1982, khi vừa tròn 18 tuổi, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, tôi lên đường tòng quân nhập ngũ.
Sau hơn 3 tháng huấn luyện tại Sư đoàn 860 – Quân khu 5, tôi nhận lệnh sang chiến trường Đông Bắc Campuchia thực hiện nghĩa vụ quốc tế. Đoàn xe chở quân phải mất 2 ngày đêm vượt dốc, băng rừng, lội suối, trèo đèo, lên phà, qua sông mới đến địa điểm giao quân. Cánh lính trẻ chúng tôi dường như mệt lả, phần vì say xe, phần vì bụi đường phủ kín áo quần, ba lô.
Sáng sớm ngày 22/12/1982, tại bãi đất trống ở Cầu Cháy thuộc huyện Choam Khsant, tỉnh Preah Vihear (Phiên âm tiếng Việt là Chôm – khơ – san, tỉnh Prết-vi-hia, Campuchia), nhiều đơn vị thuộc Sư đoàn 307 – mặt trận tiền phương 579 (Quân khu 5) đã đến đây để nhận quân.
Tôi được nhận về Ban quân khí Sư đoàn 307 đóng tại làng Xa- Em. Làng bỏ hoang chỉ còn sót lại lác đác vài loài cây ăn quả lâu năm và nằm lọt thỏm giữa rừng cây cổ thụ bạt ngàn, xa tít tắp…
Mặc dù biết mình được về Sư đoàn bộ là điều may mắn nhưng thú thật trong thâm tâm tôi lúc đầu vẫn cảm thấy bất an. Nhất là khi nhìn thấy các anh lính cũ ở đơn vị (Đại đội bảo vệ kho quân khí) ai nấy đều tím tái nước da, môi thâm đen, đôi mắt có quầng.
Trong số đó, không ít người còn mắc bệnh ghẻ lở, hắc lào mà đám lính quen gọi là lính lát. Điều mà tôi hết sức xa lạ vì đó là lần đầu tiên tôi nhìn thấy các căn nhà tiểu đội toàn vách đất, mái lợp cỏ tranh với dàn cột kèo làm từ gỗ rừng thiên nhiên có sẵn xung quanh doanh trại.

Ngày đầu tiên về đơn vị mới đúng vào dịp kỉ niệm 38 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 – 22/12/1982) nên tôi được dự liên hoan chung vui cùng anh em trong đơn vị. Rượu được vắt ra từ gạo ủ men, uống lai rai cùng thịt heo quay do đơn vị tổ chức nuôi để dành trong những ngày lễ, Tết.
Giếng đào dùng để lấy nước cho ăn uống. Tắm giặt thì xuống suối và không khéo sẽ dễ bị trượt chân vì đá hầm, đá bậc… Nhưng có lẽ điều lo lắng nhất là thỉnh thoảng đơn vị bị tập kích bất ngờ.
Khi ấy, những loạt đạn pháo tầm xa từ các cứ điểm của bọn tàn quân Pol Pot-Ieng Sary (phiên âm tiếng Việt Pôn pốt – Iêng Xa Ry) cứ bay hú trên trời và không biết rớt xuống chỗ nào. Những lúc như vậy, cả Đại đội kho quân khí chúng tôi khẩn cấp báo động và nhanh chóng cầm súng chạy xuống hầm trú ẩn theo từng tiểu đội.
Đợi đến khi nào không còn nghe tiếng hú của pháo tầm xa mới lên hầm vào doanh trại. Do bốn bề rừng cây trống vắng nên ban đêm các chiến sĩ bảo vệ kho đạn chúng tôi bảo nhau không nên ngồi vọng gác mà tìm gốc cây thích hợp để dễ dàng quan sát và đề phòng kẻ địch tấn công bất ngờ.
Mặc dù cánh lính chúng tôi không trực tiếp tham gia chiến đấu nhưng vẫn nằm trong tầm pháo của địch và cùng chung chiến hào ác liệt của tỉnh Preah Vihear thuộc địa hình rừng thiêng, nước độc. Vì vậy mà cái sốt rét rừng luôn thường trực trong cơ thể của những người lính chúng tôi. Trước lạ, sau quen và dần dà ai nấy đều gần gũi, cảm thông, chia sẻ cũng như giúp đỡ và động viên nhau hoàn thành nhiệm vụ để sớm trở về quê hương, đất mẹ.
Chủ nhật mỗi sáng hằng tuần có chiếc trực thăng chuyển thư từ, bưu phẩm từ Việt Nam sang chiến trường Đông Bắc Campuchia. Cũng như các đơn vị trực thuộc Sư bộ, Đạị đội kho quân khí chúng tôi cử người lên quân bưu Sư đoàn chờ nhận thư từ, bưu phẩm.
Những lúc ấy, anh em chiến sĩ chúng tôi rất háo hức trông chờ được đọc những cánh thư của người thân, bạn bè hay món quà tinh thần nào đó được gửi đến từ hậu phương. Tuần nào không có thư, chúng tôi đều cảm thấy một nỗi buồn man mác để rồi lục ba lô lấy ra những lá thư cũ đọc đi đọc lại cho vơi nỗi nhớ nhà.
Chiến trường Đông Bắc Campuchia, nơi tôi đóng quân không hề có ánh điện. Cứ mỗi đêm đến phải chong đèn dầu leo lét để sinh hoạt đơn vị hay giao ban ở các tiểu đội. Nhưng có lẽ món ăn tinh thần quý giá nhất là mỗi tối thứ bảy hằng tuần (nếu không có nhiệm vụ đột xuất), Ban tuyên huấn Sư đoàn bộ đều tổ chức chiếu phim phục vụ cán bộ, chiến sĩ đóng quân quanh Sư đoàn.
Để đảm bảo sẵn sàng chiến đấu, ngoài lực lượng được phân công túc trực bảo vệ kho tàng và doanh trại, các chiến sĩ được đi xem phim vẫn luôn đề phòng, trên vai khoác khẩu súng để sẵn sàng đối phó với mọi tình huống bất ngờ có thể xảy ra.
Sư đoàn chọn bãi cỏ tranh rộng rãi ở gần và cho lực lượng công binh cải tạo, san ủi để làm nơi chiếu phim cho cán bộ, chiến sĩ thuộc Sư đoàn đến xem và thưởng thức nghệ thuật điện ảnh (môn nghệ thuật thứ bảy rất thu hút cán bộ, chiến sĩ thời đó).
Những tác phẩm điện ảnh để đời và luôn in dấu ấn đặc biệt đối với chúng tôi tự bấy giờ cho đến tận hôm nay như: “Ván bài lật ngửa” do diễn viên Nguyễn Chánh Tín đảm nhận vai chính diện là kĩ sư Robe Nguyễn Thành Luân hay tác phẩm “Bài ca không quên” do ca sĩ Cẩm Vân thể hiện, tình cảm sâu lắng như nhắc nhở chúng ta luôn trân trọng những tình cảm thiêng liêng, đẹp đẽ của đồng chí, đồng đội một thời chiến tranh khói lửa, lột tả sự khó khăn, gian khổ và vô cùng ác liệt của cuộc chiến đi qua.

Tự hào Tuổi thanh xuân dành cho Tổ quốc
Chiến trường Đông Bắc Campuchia có 2 mùa rõ rệt đó là mùa khô và mùa mưa. Thời điểm diễn ra 2 mùa này đều hoàn toàn trái ngược với khí hậu miền Trung- Việt Nam.
Vào những năm sau 1982, Sư đoàn 307 thường chọn thời điểm giữa mùa khô để mở chiến dịch tấn công, truy quét các cứ điểm của bọn tàn quân Pôn Pốt – Iêng Xa Ry ẩn náu trên những vùng đồi cao, giáp giới Thái Lan và thuộc khu vực đền Prết-vihia.
Bên cạnh các tiểu đoàn đặc nhiệm, trinh sát, vận tải, thông tin… và các Trung đoàn 29, 94, 95 trực thuộc Sư đoàn có kinh nghiệm tác chiến còn có các lực lượng yểm trợ để phối hợp tác chiến như: Sư đoàn 2, Sư đoàn 315 cũng được Quân khu 5 điều động từ Tây Nguyên. Những thời điểm đó, ở khu vực quanh Sư đoàn bộ 307 nhộn nhịp đoàn quân, xe cộ, vũ khí, khí tài cùng các lều bạt dựng tạm của những đơn vị từ hậu phương sang thực hiện nhiệm vụ.
Đó là những lúc mà cánh lính bảo vệ kho đạn của chúng tôi hết sức vất vả trong mọi tình huống bất kể ngày, đêm luôn trong tư thế sẵn sàng bốc xếp vũ khí, đạn dược lên các loại xe quân sự như Hồng Hà (Trung Quốc), Rin Khơ (Nga) để vận chuyển ra trận tuyến chống quân thù.
Bệnh xá Sư đoàn 307 nằm cạnh kho quân khí nên anh em đồng đội trong đơn vị chúng tôi đều thấy rất rõ các thương bệnh binh được chuyển từ mặt trận về cấp cứu, điều trị trên những chiếc võng cáng thương vượt đường rừng hơn 40 – 50 cây số. Có khi các chiến sĩ vận tải cứu thương dẫm phải mìn gài trong lòng đất của bọn giặc để rồi cuối cùng phải cưa chân, tháo khớp và thậm chí có lúc bị thương tích hỏng mắt hoặc vĩnh viễn ra đi.
Những cảnh tượng ấy khiến cho anh em chúng tôi trào rơi nước mắt. Nhưng vì nhiệm vụ cao cả, thiêng liêng cũng như sự động viên tư tưởng của các cán bộ chỉ huy trực tiếp như Trung úy – Đại đội trưởng Trần Ngọc Linh hay Đại úy – Trưởng ban quân khí Sư đoàn 307 – Hoàng Minh đã thúc đẩy niềm tin và sức mạnh cho toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị vượt qua mọi gian khổ, khó khăn, thiếu thốn.
Qua đó, hướng tới mục tiêu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bản thân, góp phần đưa đất nước Chùa Tháp hoàn toàn thoát khỏi chế độ diệt chủng Pôn Pốt – Iêng Xa Ry và đập tan toàn bộ các cứ điểm của bọn tàn quân ẩn náu. Đất nước và người dân Campuchia được sống trong hòa bình, độc lập, tự do và hạnh phúc.
Đã mấy chục năm trôi qua nhưng trái tim tôi vẫn không khỏi nghẹn ngào xúc động xen niềm lẫn tự hào khi nhớ về những kỷ niệm đong đầy một thời khói lửa đạn bom ở chiến trường K…

Tâm An chấp bút, ghi theo lời kể của ba là Cựu chiến binh Đào Trung Việt.
(Chú thích: “Chiến trường K” là từ viết tắt của “Chiến trường Kampuchea” – Campuchia).


